Quãng Giọng Mariah Carey – Bà Hoàng Âm Vực

Kĩ Thuật Lan Tỏa Độ Vang (Loang Sóng Âm Thanh) Trong Ca Hát
Tháng Ba 29, 2017
Kĩ Thuật Hát Lướt (Glissando) Trong Nhạc Pop
Tháng Tư 4, 2017
maria carey wiki

 

Đặc Điểm Giọng Hát

Loại giọng/Vocal type: Lirico Coloratura Soprano (nữ cao trữ tình màu sắc)

Quãng giọng/Vocal range (live/studio): 5 quãng 8 3 note (F#2-Bb7/F2-B7)

Quãng giọng Live thời đỉnh cao (Prime’s era live): Bb2-Bb7

Quãng thoải mái/Tessitura: F#3-C6

Quãng hát hỗ trợ tốt/Supported range : C#3-F#5-D6-Eb7 (4 quãng 8 2 note)

9/10
Kĩ Thuật
(Prime Era)
8.5/10
Cảm Xúc

Note live thấp nhất: F#2 trong ca khúc You and I

Note live cao nhất: Bb7 trong ca khúc Emotions

Màn trình diễn live đạt vocal range rộng nhất: Emotions - Bb2-A7 (xấp xỉ 5 quãng 8)

Longest note: 16 giây

Ưu Điểm

  • Ưu điểm đầu tiên của Mariah Carey là sở hữu một giọng hát đẹp hiếm có. Dù là một coloratura soprano (phát triển lên từ light lirico soprano) nhưng chất giọng của Mariah là sự pha trộn giữa âm sắc thủy và mộc chứ không hề có tính kim như các soprano khác.
  • Âm sắc mộc giúp giọng hát của Mariah trở nên ấm áp, mềm mại và xốp đến khó tả trên quãng trung và trầm, nghe cứ thủ thỉ như rót mật vào tai. Chính nhờ âm sắc này mà Mariah có thể hát airy voice vô cùng ngọt ngào, nhẹ tựa làn khói, trở thành thương hiệu riêng của cô.
  • Trong khi đó, âm sắc thủy lại khiến giọng cô trở nên mướt, mượt mà và trôi chảy như một dòng suối. Dù Mariah có thể mixed và whistle lên rất cao, nhưng chưa bao giờ người ta thấy giọng cô bị chói, gắt, lúc nào cũng êm như ru.
  • Giọng hát của Mariah thời hoàng kim còn vô cùng đẹp, đầy đặn, tròn trịa, lên cao vẫn sáng, vang, có lực, nhưng không bao giờ cứng, đanh, thô, lạnh mà luôn mềm mượt, trung tính. Màu giọng của Mariah không quá sáng (vì không có âm sắc kim) nhưng mọi thứ đều vừa đủ để tạo cảm giác dễ chịu nhất.
  • Không chỉ đẹp, giọng hát của Mariah còn vô cùng đặc biệt. Đó là một quãng giọng rất rộng, trải dài một cây đàn piano. Trong quãng giọng siêu rộng đó, Mariah luôn hát một cách nhất quán, liên kết và hát đẹp, không bị rơi vào tình trạng rời rạc, thiếu kiểm soát, rướn note cho cố như nhiều ca sĩ khác.
  • Nhất quán là thế, nhưng màu giọng giữa quãng cao, trung, trầm của khác nhau tuyệt đối, tạo nên sự đa dạng, phong phú. Quãng trầm hơi ấm và tối, quãng trung hơi khàn, đầy đặn, còn quãng cao lại cao vút đến kịch kim.

 Nên nhớ rằng, Mariah Carey đã có thể hát quãng trầm từ lúc 5 tuổi, khi nhại theo tiếng piano của mẹ, đó là một điều vô cùng đáng kinh ngạc. Bởi vậy, dù là một nữ cao mang tính brightness, nhưng ngay từ năm 16 tuổi cô có thể hát trầm liên tục trên Eb3-B2 một cách khó tin.

  • Tới năm 1996, Mariah có thể melisma chuỗi note F#3-Bb2 dễ dàng trong tích tắc (2:27)
  • Quãng giọng rộng là một chuyện, nhưng kĩ thuật bậc thầy và năng lực bẩm sinh giúp Mariah có thể supported giọng hát trong phạm vi cực kỳ rộng lớn, từ chest, mixed tới head voice, whistle. Hầu như rất ít ca sĩ pop có thể đạt phạm vi support range tới 4 - 4.2 quãng, trải dài từ rất trầm tới rất cao.
  • Điển hình nhất là trong Daydream era, Mariah đã show được những thước vocal từ C#3 tới Eb7 hoàn toàn được hỗ trợ tuyệt đối, kiểm soát tốt và thực hiện các kỹ thuật melisma, staccato, glissando, trillo, passagio… vô cùng linh hoạt .
  • Mariah có thể hát legato trên những quãng rất cao và phức tạp. Cô thường xuyên lướt legato rõ lời đi từ chest voice sang whistle trong tích tắc, không một chút gợn và hoàn toàn nhẹ nhàng với âm sắc thanh thoát cùng lối vibrato nhanh, như một loài chim đang hót .

Ngoài ra, Mariah còn có thể thực hiện những đoạn chạy note rất phức tạp.

Chẳng hạn, từ airy voice nhẹ bẫng, trầm tối chạy đến những đoạn whistle quãng 7 được showcase trong gần 1 phút .

Đến những chuỗi kỹ thuật màu sắc đều được phô diễn một cách nhẹ nhàng, linh hoạt và hòa âm một cách tuyệt đối.

 Những thế mạnh vượt trội khác đã làm lu mờ head voice của Mariah, nhưng thực tế, cô sử dụng head voice rất tốt, hơn rất nhiều ca sĩ khác.

 Trong thời kì mất giọng, Mariah vẫn có thể sustain C#6 và D6 trên head voice 10-12 giây dễ dàng đi từ nhiều dynamic khác nhau, từ forte sang pianissimo nhỏ dần đến al-niente.(2:22)

  • Tessitura giọng thật của Mariah Carey trải dài từ Eb3-F#5. đồng thời nhận được sự hỗ trợ tối ưu, kèm theo những lối hát đặc biệt cho phép cô có thể hát được những bài hát cực kì khó, đòi hỏi một giọng hát đặc biệt với quãng giọng trung bình từ 3 quãng 8 trở lên, như If It’s over (D3-F#5-A6), Vanishing (D3-F#5-Bb6), Don’t making love anymore (F#3-Bb6), I wanna know what love is (G3-F5-Eb7).

Ngay từ thời debut, Mariah đã có thể dễ dàng showcase gần 4 quãng 8 ở Vision Of Love (Eb3-F5-C7).

  • Mariah không bao giờ show off quá nhiều note belt cao, nhưng khó có ca sĩ nào hát được những đoạn belting từ Bb4-F#5 của Mariah trong giai đoạn Daydream.
  • Mariah chọn cho mình vị trí cộng hưởng đi từ vang nhân trung vòng đến tận sau gáy, tạo nên những note belting nhẹ nhàng, thư thái, mềm mại, không quá powerful xôi thịt mà vẫn lan tỏa, bay bổng như tiếng hát thiên thần.
  • Lối belting này rất khó sử dụng vì không được dùng lực quá nhiều khi lên cao (thông thường phải dùng nhiều lực mới cộng hưởng note cao được) nhưng vẫn vang rền. Không những vậy, nó còn được xử lý phức tạp, khiến ngay cả một note E5 của cô cũng khó ai cover nổi. Chẳng hạn như trong ca khúc Hero.
  • Hay trong I’ll be there, cô nhấn 3 lần F5 super open, sáng và vang rền như tiếng chuông, nhưng vẫn mượt mà. Đa số các ca sĩ khác khi cover bài này chỉ đảm bảo việc hit tới F5, dù có chuẩn kĩ thuật cũng khó lòng tạo ra được âm thanh như Mariah.
  • Note D5 của Mariah trong live sau rất đặc biệt, nó vang rền, powerful, nhưng lại xốp, mềm và bay.
  • Hay trong màn live If It’s over tại Grammy, cô đã hát quãng treo liên tục với vocal stamina đáng nể. Đó là cách hát đúng vị trí, thư giãn tốt thanh quản và cân bằng, kết nối head với chest trên mixed voice, giúp cô trượt từ quãng trầm lên trên C#5 rất nuột nà rồi bắn thẳng lên tiếp D5 Eb5 E5 vang và sáng. Chưa dừng ở đó, cô vẫn nhấn F#5 liên tục mà không biết mệt, không có dấu hiệu lack resonace, strain, hoarseness. Đáng gờm nhất là cú bắn liên thanh F#5 3 lần ở câu "You've got to say the words tonight".
  • Dù là một light coloratura soprano, nhưng Mariah vẫn có thể belt quãng trung rất đẹp.
  • Lối hát dần thay đổi theo chiều hướng chuyển giọng gần giống với lối hát cổ điển “mạnh đầu nhẹ sau” cho phép Mariah Carey thực hiện được những đoạn vocalline tinh xảo khi belt cao rồi chuyển giọng nhẹ dần đến tắt dần .
  • Các kĩ thuật hoa mỹ của Mariah vô cùng điêu luyện và tinh xảo. Cô có thể trillo trên giọng thật với tốc độ nhanh đến khó tả.

0:40 : Mariah thực hiện một chuỗi note riff

Rồi ở 0:14, cô lại trill trên B6/Bb6 với tốc độ siêu nhanh

Hoặc, lướt glissando như sóng.

  • Đặc biệt, các kĩ thuật hoa mỹ được cô sử dụng thường xuyên trên whistle. Có thể nói, Mariah chính là một trong ba bậc thầy whistle của nhạc đại chúng và có tầm ảnh hưởng lớn tới việc phổ biến kĩ thuật này vào âm nhạc đương đại, tạo cảm hứng cho nhiều ca sĩ.
  • Dùng kĩ thuật staccato trên whistle (từ 3:40)

 24 note whistle trong đó whistle staccato 4 chùm : E7-E7-Bb6-C#7 E7-E7-Bb6-C#7-E7-E7-Bb6-C#7-E7-E7-Bb6-C#7-E7-E7-Bb6-C#7-E7-E7-Bb6-C#7-E7-E7-Bb6-C#7-E7-E7-Bb6-C#7-E7-E7-Bb6-C#7-E7-E7-Bb6-C#7-E7-E7-Bb6-C#7-E7-E7-Bb6-C#7

  • Chuyển từ vocal runs sang whistle (từ 3:55)
  • Kết hợp vocal runs và fortissimo trên whistle (từ 2:56)
  • Chạy note và nhảy note với tốc độ nhanh trên whistle (từ 1:19)
  • Chạy staccato với tốc độ rất nhanh trên whistle (từ 2:44)
  • Nhắc tới Mariah Carey là nhắc tới melisma, một trong những kĩ thuật kinh điển của R&B đã được cô phổ biến vào nhạc đại chúng từ thập niên 90 cùng Whitney Houston, cũng là minh chứng cho sự linh hoạt màu sắc của cô.
  • Kể từ lúc ca khúc Vision of love được tung ra thị trường và giành ngay vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Billboard hot 100, nó đã thổi vào làng âm nhạc một lối hát mới vô cùng phóng túng, hấp dẫn người nghe - lối hát melisma (cách hát đóng âm tiết, rung giọng và luyến láy trên nhiều cao độ trong một làn hơi, thường là từ quãng cao nhảy dần xuống những quãng thấp hơn). Mời các bạn nghe bản thu âm ca khúc này để thấy rõ điều đó.

3:02 - 3:04 là melisma.

3:13 - 3:18 là melisma.

  • Ngoài ra, còn một số chỗ dùng vocal runs cũng như melisma rất nhỏ trong ca khúc này, như câu "I had the vision of love", cô hát 2 lần trên quãng cao thì 1 lần là vocal runs nhưng 1 lần lại là melisma (chạy note từ F5(F#5) xuống note trầm). Ngay cả trên whistle cũng đã có melisma, giống với kĩ thuật cắt note ở opera.
  • Mariah cũng là bậc thầy về vocal runs (kĩ thuật kết hợp giữa staccato và vibrato cùng chạy note nhưng cần như là một chuỗi chỉ có 2 note, lên-xuống-lên-xuống). Ví dụ điển hình nhất là màn chạy vocal kèm theo melisma dài 11 giây của cô trong màn trình diễn ca khúc Vision of love năm 1990 (từ 2:46).

 Hay như màn vocal runs chuyển quãng sang whistle kèm theo melisma dài 6 giây trong màn trình diễn ca khúc Vanishing năm 1990 sau (từ 3:30).

  • Chất giọng màu sắc trữ tình đậm tính "soft voice" còn khiến Mariah có thể linh hoạt dùng head mảnh và nhẹ, tạo một ảo giác cao độ, đến mức người ta tưởng rằng cô đang phiêu whistle. Mời nghe màn trình diễn I still believe sau để thấy điều đó (từ 3:04).
  • Sở trường của Mariah là lối hát airy voice khó ai bắt chước được, nó giúp cô tạo ra những quãng hát ngọt ngào đặc trưng. Mariah có thể luyến láy đủ kiểu trên airy voice và chuyển giọng linh hoạt không một chút gợn từ airy sang low chest rồi tới low head, rồi lại tới mixed voice, cứ liên tục không ngừng nghỉ. Các vị trí âm thanh của cô xê dịch một cách không điểm dừng.
  • Mariah có thể belt B4 chuyển giọng Eb6 vibrato chuyển giọng tiếp xuống belt F5-Eb5 (Cụ thể là chạy chuyển belt - whistle - belt) nhưng không hề đứt gãy âm thanh, vẫn liền mạch.
  • Mariah cũng rất thành công với lối hát yodeling trên falsetto (cách hát chuyển từ giọng trầm sang sang giọng cao, luyến láy một cách liên tục, tạo nên những âm thanh trầm bổng bất ngờ chỉ trong một thời gian rất ngắn), tạo nên một đặc trưng riêng trong âm nhạc của cô, rất ngọt ngào và quyến rũ, ít ai có được. Hầu như mọi ca khúc của Mariah giai đoạn sau này (từ album Daydream trở đi) đều sử dụng yodeling một cách triệt để.
  • Không chỉ ấm áp và airy, falsetto của Mariah khi lên cao còn rất sáng, mảnh và có thể sustain được một cách lâu dài.
  • Cách vibrato của Mariah cũng vô cùng tinh tế, duyên dáng, cô thường giữ nguyên một note belt rồi mới rung ở đuôi để vuốt nó đi.
  • Dù không phải một giọng hát dynamic dữ dội, như Mariah vẫn có thể gằn giọng đầy nội lực.
  • Sau đây có lẽ là video toàn diện nhất về giọng hát của Mariah Carey.

Nhược Điểm

  • Nhược điểm lớn nhất của Mariah là bị hạch thanh quản, nhưng cô không phẫu thuật vì sợ mất giọng mà quyết sống chung với nó. Hạch thanh quản khiến cô phải gắng sức hơn để ca hát, dẫn tới mệt mỏi và thanh quản yếu dần.
  • Không những vậy, giống như Whitney, lối sống của Mariah không lành mạnh, thường xuyên làm bạn với rượu và thuốc lá, cộng thêm áp lực lớn từ công việc, đời tư đã khiến giọng hát của cô bị tàn phá nhanh chóng.
  • Mariah được cho là đã lạm dụng falsetto quá nhiều khi hát, khiến hai dây thanh đới không được khép kín, bị chà xát, dẫn tới mất giọng.
  • Vocal stamina (sức chịu đựng giọng hát) của Mariah không lớn như các ca sĩ khác, nhưng cô lại thường xuyên hát những ca khúc khó với dynamic cao, quãng giọng rộng, càng khiến thanh quản bị tổn hại.
  • Thời kì debut, Mariah nhiều khi hát bị nasal và chesty, dẫn tới strain, nghẹt giọng.
  • Sau này khi mất giọng, cô lại thường xuyên hát cao thanh quản.
  • Thi thoảng, Mariah hạ thanh quản khi hát quãng trầm, dẫn tới thiếu support.
  • Nhiều khi, Mariah bị đánh giá là lạm dụng whistle, khiến việc xử lí tác phẩm trở nên thiếu cảm xúc.

Long Phạm

Phuong
Phuong
Mình là Thảo Phương, một cô gái với âm nhạc là nguồn sống ^^. Mình đã từng được vào vòng đối đầu của The Voice và hiện giờ vẫn đang trên con đường làm ca sĩ :).

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *